Tin nóng

Tin nổi bật

Polyco Catalog

Website Liên kết

Liên hệ

Mr. Quỳnh: 0948.188.966
Email: quynhleba@gmail.com

Đơn vị thành viên

Sản xuất bia không cồn đầu tiên tại VN mang thương hiệu bia không cồn Sagota
GS.TS. Đinh Văn Thuận, TS. Đinh Văn Thành, Ths. Nguyễn Thị Thanh Ngọc Công ty TNHH Cơ nhiệt Điện lạnh Bách Khoa - Tập đoàn Polyco.
 alt
Ngày 19/07/2014, Hệ thống sản xuất bia không cồn đầu tiên của Việt Nam với công suất 1.000 lít/h đi vào vận hành tại Nhà máy Bia Sài Gòn - Hoàng Quỳnh thuộc Công ty CP Bia Sài Gòn - Bình Tây do nhà thầu – Tập đoàn Polyco trang bị và lắp đặt. Ban lãnh đạo nhà máy đã nắm bắt được xu hướng sản xuất bia không cồn ở các nước phát triển, tiên phong sản xuất sản phẩm mới có nhiều tiềm năng ở Việt Nam. Được trang bị hệ thống dây chuyền thiết bị hiện đại và công nghệ tiên tiến, hứa hẹn sẽ tạo ra sản phẩm bia không cồn có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người Việt. Hệ thống thiết bị sản xuất bia không cồn tại Nhà máy Bia Sài Gòn - Hoàng Quỳnh theo công nghệ chưng cất chân không bia đã được lên men và lọc trong, bao gồm:
alt
lTháp loại khí CO2 trong bia trước khử cồn và cụm thu hồi hương (hình 3).
lTháp tách cồn và thiết bị ngưng tụ cồn (hình 4).
lCụm thiết bị pha trộn và bão hòa CO2 (hình 5).
Nguyên lý hoạt động của hệ thống sản xuất bia không cồn:
alt
Bia có cồn sau lọc trong được bơm P1 bơm qua thiết bị trao đổi nhiệt W2 (hình 5), bia có cồn trao đổi nhiệt với bia không cồn, nâng nhiệt độ của bia có cồn lên khoảng 450C và đi vào phía trên đỉnh của tháp tách khí CO2 (K1) (hình 3) dưới áp suất khoảng 90 – 110mbar. Tại K1 bia có cồn chảy xuống đáy, trong khi đó, khí CO2 và một số cấu tử hương trong bia, thoát ra phía trên đỉnh, đi đến đáy tháp tách khí CO2 (K6) bằng bơm P9. Tại tháp K6, ở khoang dưới dùng nước bài khí 30C để thu hồi các cấu tử hương, khí CO2 được thoát ra phía trên đỉnh, ở khoang trên của K6 được thiết kế có lớp đệm, nhằm giữ lại một số cấu tử chất thơm chưa được nước bài khí 30C giữ lại ở khoang dưới. Hỗn hợp nước và các cấu tử chất thơm được tuần hoàn và ngưng tụ qua thiết bị trao đổi nhiệt tấm bản W3 bằng bơm P10. Lưu lượng chất thơm thu hồi đi phối trộn vào bia không cồn được điều chỉnh bằng van điều khiển tuyến tính với báo mức liên tục trong tháp K6 (hình 3).
alt
Bia có cồn sau khi tách CO2 được chuyển đến tháp K2 bằng bơm P2 (hình 4). Tại tháp K2 loại tháp đệm, phần lớn cồn trong bia được tách ra, cồn thoát ra trên đỉnh tháp K2 được ngưng tụ bằng thiết bị trao đổi nhiệt ống chùm K5. Để nâng hiệu suất tách cồn trong bia, hệ thống lắp đặt thêm tháp K3, lượng cồn lấy ra được điều chỉnh bằng van điều khiển khí nén tuyến tính và lưu lượng, duy trì đảm bảo nồng độ đầu ra là 75%. Bia sau khử cồn được bơm P4 bơm qua thiết bị K4 (nhằm mục đích thanh trùng bia) và bơm P6 bơm đến cụm phối trộn và bão hòa CO2 (hình 6), bia không cồn được làm lạnh xuống 50C và chứa vào tank thành phẩm.
alt
alt
Ưu điểm lớn nhất của hệ thống sản xuất bia không cồn tại Nhà máy Bia Sài Gòn - Hoàng Quỳnh: Hệ thống thiết bị hiện đại, quá trình tự động hóa hoàn toàn, chi phí sản xuất thấp, không phải thay thế vật liệu định kỳ như hệ thống khử công bằng màng. Quá trình tách cồn trong bia được tiến hành trong tháp đệm, dưới điều kiện áp suất chân không, nên nhiệt độ của bia trong tháp luôn < 500C. Bên cạnh đó, cụm thu hồi các cấu tử hương là triệt để, tháp tách cồn trong bia hiệu suất cao, có thể tạo ra bia không cồn có nồng độ còn 0%. Do đó chất lượng của bia không cồn không bị biến đổi so với bia có cồn.
Mang thương hiệu SAGOTA, là sản phẩm bia không cồn đầu tiên tại Việt Nam, được khử cồn từ bia sau lên men và lọc trong, nguyên liệu chính 100% malt, làm nên chất lượng sản phẩm bia không cồn SAGOTA vẫn mang đậm hương vị bia Sài Gòn.
alt
Kết luận
Với hệ thống thiết bị và công nghệ hiện đại từ các nước phát triển, sẽ đem lại chất lượng sản phẩm bia không cồn đáp ứng chỉ tiêu về hàm lượng cồn < 0.5%. Đồng thời, giá thành cạnh tranh nhiều hơn so với bia nhập ngoại, mà vẫn mang đậm hương vị Việt, Bia không cồn SAGOTA hy vọng sẽ thỏa mãn được thị hiếu tiêu dùng của người Việt.
 
Lựa chọn công nghệ và công suất sản xuất bia không cồn tại Việt Nam
GS.TS. Đinh Văn Thuận, TS. Đinh Văn Thành, Ths. Nguyễn Thị Thanh Ngọc Công ty TNHH Cơ nhiệt Điện lạnh Bách Khoa - Tập đoàn Polyco.
Đã có nhiều nghiên cứu phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn, như phương pháp tác động vào quá trình đường hóa hoặc quá trình lên men, tuy nhiên hai phương pháp trên tạo ra sản phẩm bia không có hương vị đặc trưng (do quá trình lên men không hoàn toàn, sản phẩm lên men thường có vị ngọt và không có các cấu tử chất thơm), làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm và thị hiếu của người tiêu dùng, ít được ứng dụng trong quy mô sản xuất. Hiện nay, một số nhà máy bia ở các nước phát triển, đã ứng dụng công nghệ sản xuất bia không cồn từ bia sau lên men hoàn toàn, cụ thể hơn là phương pháp loại cồn trong bia bằng nhiệt, sử dụng hệ thống tháp chưng cất chân không, bia thành phẩm đáp ứng nồng độ cồn < 0,5% vol, hệ thống hoạt động ở nhiệt độ và áp suất thấp không làm biến đổi chất lượng của bia, thuận lợi kết hợp với công đoạn thu hồi hương (là những hợp chất quan trọng quyết định mùi vị đặc trưng cho từng loại bia), nên các thành phần chất thơm được thu hồi triệt để, tạo ra bia không cồn thành phẩm có chất lượng đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của từng hãng, của từng nhà máy.
Mở đầu
Tại thời điểm này, duy nhất có một nhà máy bia sản xuất bia không cồn, đó là Nhà máy Bia Hoàng Quỳnh – Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn - Bình Tây ở Việt Nam, do Công ty TNHH Cơ nhiệt Điện lạnh Bách Khoa – Tập đoàn Polyco trang bị và lắp đặt. Tiềm năng tiêu thụ bia không cồn lớn, các sản phẩm bia không cồn nhập ngoại không phù hợp về khẩu vị tiêu dùng của người Việt và giá thành quá cao. Các hãng bia tại Việt Nam đang muốn đầu tư sản xuất và phát triển sản phẩm bia không cồn, nhưng vấn đề cản trở lớn đó là làm sao lựa chọn dây chuyền công nghệ sản xuất bia không cồn không ảnh hưởng đến hệ thống thiết bị công nghệ sản xuất bia có cồn hiện hữu, phải phù hợp về chi phí mức đầu tư, chi phí sản xuất thấp, công suất sản xuất và đặc biệt hơn đó là chất lượng của bia phải đảm bảo mùi vị đặc trưng truyền thống, giá thành hợp lý. Do đó, phân tích của chúng tôi sẽ đưa ra những lựa chọn thực tiễn, là cơ sở quan trọng giúp các nhà máy bia tại Việt Nam định hướng đầu tư hệ thống dây chuyền sản xuất bia không cồn.
1. Phân tích lựa chọn phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn tại Việt Nam.
Để đưa ra được phân tích lựa chọn hợp lý phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn tại Việt Nam, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các nghiên cứu phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn trên thế giới, đồng thời, tìm hiểu phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn đã được ứng dụng hiệu quả tại một số nhà máy bia hiện đại ở các nước phát triển.
1.1. Các nghiên cứu phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn trên Thế giới
1.1.1. Phương pháp hạn chế sự tạo thành đường có khả năng lên men trong quá trình đường hóa.
Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu quá trình nấu và thay đổi các chế độ đường hóa nhằm thu được dịch đường có thành phần hóa học phù hợp cho quá trình tạo ra bia có nồng độ cồn thấp.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn của phương pháp này là ảnh hưởng đến công nghệ sản xuất bia hiện hữu và quá trình điều khiển tự động cũng phải thay đổi, dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh bia có cồn và đặc biệt chất lượng sản phẩm bia không cồn có hương vị không hài hoà như bia truyền thống do nồng độ các hợp chất carbonyl trong dịch đường cao và bia không cồn nặng “mùi dịch đường”. 
alt
Hình 1.
Hệ thống sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia ở CHLB Đức
1.1.2.Phương pháp hạn chế sự tạo thành cồn trong quá trình lên men
- Phương pháp tác động vào quá trình lên men:
Quá trình lên men được thực hiện ở nhiệt độ thấp, đến khi nồng độ cồn < 0.5%, thì dừng quá trình lên men, thu hồi men và lọc, giữ dịch bia ở nhiệt độ thấp 0-10C. Phương pháp lên men này hoàn toàn tận dụng được các thiết bị lên men sẵn có. Tuy nhiên nhược điểm lớn là sự hình thành các hợp chất hương bị hạn chế, do đó bia thành phẩm không có mùi thơm [1,2,4].
alt
Hình 2. Hệ thống sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia ở CHLB Đan Mạch
- Phương pháp lên men ở nhiệt độ thấp:
Ưu điểm của phương pháp là giảm được các hợp chất carbonyl và tạo ra nhiều hợp chất hương [1,5,6], tận dụng được thiết bị lên men hiện hữu, nhưng nấm men được sử dụng trong phương pháp lên men ở nhiệt độ thấp sẽ chuyển hóa các amino acid thành các aldehyde – là chất làm giảm hương vị của bia [7].
- Phương pháp sử dụng chủng nấm men đặc hiệu:
Quá trình lên men sử dụng chủng nấm men đặc hiệu như các loài Saccharomyces Ludwigii, chỉ lên men đường Fructose và glucose, không lên men đường maltose, nên khi quá trình lên men đến nồng độ cồn < 0.5% dừng lên men thì hàm lượng đường trong bia thành phẩm cao, khiến bia có vị quá ngọt và chủng nấm men khác so với chủng nấm men sản xuất bia hiện tại, ảnh hưởng lớn đến sản xuất sản phẩm bia có cồn [1,2,27].
- Phương pháp cố định tế bào nấm men:
Cố định tế bào nấm men bao gồm việc kết hợp chúng với một chất mang, nhằm cho phép sự hình thành các cụm nấm men trên đó, chất mang thường được sử dụng là các phụ phẩm trong sản xuất bia và nông nghiệp như các loại hạt ngũ cốc hoặc lõi ngô. Quá trình lên men tránh tạo cồn nhưng nấm men vẫn tạo ra các hợp chất hương vị của bia. Quá trình lên men là liên tục nên khó khăn trong việc kiểm soát, khả năng nhiễm khuẩn cao, chi phí đầu tư hệ thống thiết bị lớn [8,9,22,23], không thể tận dụng hệ thống thiết bị lên men hiện hữu của các nhà máy bia hiện tại ở Việt Nam.
1.1.3.Phương pháp loại bỏ cồn từ dịch bia sau quá trình lên men hoàn toàn
- Phương pháp loại bỏ cồn bằng nhiệt
Có nhiều phương pháp loại cồn bằng nhiệt: Phương pháp bay hơi, phương pháp chưng cất chân không, phương pháp chưng cất ly tâm. Nguyên lý chung của các phương pháp loại cồn bằng nhiệt dựa vào nhiệt độ sôi của cồn, do ở áp suất khí quyển, nhiệt độ sôi của cồn là 780C và nhiệt độ sôi của nước là 1000C. Tuy nhiên, nếu chưng cất bia ở nhiệt độ cao sẽ làm thay đổi thành phần hóa lý trong bia, do đó phương pháp loại cồn bằng nhiệt thường thực hiện ở áp suất thấp hoặc chân không [13]. Ưu điểm chung của phương pháp này là cho phép tạo ra sản phẩm bia có nồng độ cồn chỉ còn 0.05% [1], nhiệt độ bay hơi vừa phải, không ảnh hưởng nhiều đến mùi vị của bia, kết hợp dễ dàng hệ thống thu hồi hương. Tuy nhiên, chi phí năng lượng sản xuất cao, một số hợp chất hương bị bay hơi theo cồn. Chi phí đầu tư hệ thống chưng cất ly tâm là cao nhất [10,11], do thiết bị phức tạp, khó chế tạo, yêu cầu chính xác cao, hệ thống bay hơi chân không thì không thu hồi được triệt để các thành phần hương, hệ thống chưng cất chân không nổi trội hơn do khắc phục được nhược điểm của hai hệ thống trên [1,2,3,25,26].
- Phương pháp loại bỏ cồn bằng quá trình trích ly
Phương pháp trích ly bằng dung môi: Bia được kết hợp với dung môi (như pentane hay hexane) hòa tan tốt cồn, cồn được vận chuyển từ bia vào dung môi. Nhưng nhược điểm lớn của phương pháp này đó là phải đầu tư thêm thiết bị trích ly hai pha lỏng, các hợp chất thơm mà hòa tan trong dung môi bị loại bỏ, không thu hồi được, sản phẩm bia không cồn có thể bị lẫn dung môi và đặc biệt dung môi sử dụng phải được sự cấp phép của ngành thực phẩm [11].
Phương pháp trích ly bằng CO2: Phương pháp này dựa trên nguyên lý trích ly bằng dung môi. Trong trường hợp này, dung môi là CO2 dạng lỏng hoặc siêu giới hạn. Tại một số điều kiện ở nhiệt độ và áp suất, CO2 có tính chất tương tự như một dung môi hữu cơ. Phương pháp này là dùng CO2 để tách cồn, không tách nước và các phần tử lớn khác trong bia, do đó bia không bị tác động bởi nhiệt. Tuy nhiên chi phí đầu tư thiết bị và sản xuất lớn [11,12,13].
Phương pháp trích ly bằng sử dụng chất hấp phụ: Chi phí vận hành cao, chất hấp phụ phải được tái sinh, một số hợp chất hương bị hấp phụ theo cồn [14].
- Phương pháp loại bỏ cồn bằng màng lọc
Có thể loại cồn bằng nhiều phương pháp màng như màng lọc Nano, màng lọc RO (Reverse osmosis), màng lọc thẩm thấu kết hợp chưng cất, màng lọc theo nguyên lý thẩm tách và theo nguyên lý tách hơi nước qua màng [10,21,24].
Đối với màng lọc Nano và RO hoạt động theo nguyên lý chênh lệch áp giữa chất thấm qua và chất được giữ lại trên lớp màng, thường nước và cồn sẽ thấm qua lớp màng dưới áp suất thẩm thấu, một số hợp chất lớn hơn không thấm qua lớp màng như các cấu tử chất thơm trong bia, do đó sự tổn thất chất thơm là nhỏ [35]. Nhưng chi phí đầu tư hệ thống dây chuyền thiết bị và sản xuất cao, đặc biệt, nồng độ sản phẩm bia không cồn qua màng lọc RO khó đạt < 0,45% vol, áp lực của màng lọc RO cũng cao, không thuận lợi cho bia [1,20,21,24].
Phương pháp chưng cất thẩm thấu: Hệ thống tách cồn từ bia là các module màng dạng xốp kỵ nước, dung môi hòa tan được sử dụng thường là nước, nguyên lý loại cồn dựa vào sự chênh lệch áp suất bay hơi của cồn trong bia và dung môi. Các hợp chất thơm trong bia bay hơi theo cồn và khó thu hồi [15,16,17].
Phương pháp thẩm tách: Sử dụng màng lọc, đối với cồn là chất tan có trọng lượng phân tử thấp, dễ dàng thấm qua lớp màng tạo ra sự biến thiên nồng độ giữa hai dung dịch. Cồn liên tục thấm qua lớp màng cho đến khi đạt được nồng độ cân bằng giữa hai lớp màng. Chi phí đầu tư và sản xuất đắt hơn so với màng lọc Nano và RO, đồng thời sự tổn thất hương thơm lớn [18,19,20].
Phương pháp tách hơi nước qua màng: Là một phương pháp lọc màng mới, vật liệu màng có tính kỵ nước nên cồn dễ dàng thẩm thấu qua màng, tuy nhiên các phần tử chất thơm trong bia có ái lực cao với màng kỵ nước, nên sự tổn thất các hợp chất hương không nhỏ và hệ thống này rất phức tạp, nhiều thiết bị và chưa được ứng dụng rộng rãi quy mô công nghiệp [18,19,21].
1.2. Phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia trên Thế giới
1.2.1. Phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia ở CHLB Đức
Quá trình loại cồn từ bia theo phương pháp chưng cất chân không (hình 1), hệ thống gồm một tháp bài khí, hai tháp cất, hoạt động ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thấp. Các thành phần hương bay hơi theo cồn được thu hồi, ngưng tụ, làm lạnh và hòa trộn vào bia không cồn. Cồn được ngưng tụ và sử dụng cho nhiều mục đích khác. Thế mạnh của hệ thống này là sự tổn thất bia thấp khoảng 5%, thiết bị hệ thống gọn nhẹ, quá trình vận hành là hoàn toàn tự động, chi phí đầu tư thấp. Tiêu thụ năng lượng thấp: 0,18 kg hơi/lít bia không cồn; năng suất giải nhiệt (hệ ngưng tụ) 0,14 kw/lít bia không cồn; 0,0085 kw điện/ lít bia không cồn và đặt biệt là có thể sản xuất bia không cồn có nồng độ cồn < 0,05% vol.
1.2.2. Phương pháp công nghệ sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia ở Đan Mạch
Quá trình khử cồn trong bia cũng theo phương pháp chưng cất chân không (hình 2). Hệ thống chỉ có một tháp cất, gồm các hệ thống phụ khác hoàn chỉnh cho công đoạn bài khí CO2, thu hồi hương. Hệ thống gọn nhẹ, quá trình vận hành hoàn toàn tự động, tổn thất bia khoảng 7%, tiêu thụ năng lượng: 0,22 kg hơi/lít bia không cồn; năng suất giải nhiệt (hệ ngưng tụ) 0,18 kw/lít bia không cồn; 0,012 kw điện/ lít bia không cồn, nồng độ cồn trong sản phẩm bia không cồn < 0,5%vol.
1.3. Phân tích lựa chọn công nghệ sản xuất bia không cồn phù hợp tại Việt Nam
Dựa vào các phương pháp nghiên cứu công nghệ sản xuất bia không cồn trên thế giới cho thấy: Phương pháp loại cồn từ bia đã được lên men hoàn toàn là khả thi, do không làm ảnh hưởng đến công nghệ, đến hoạt động sản xuất của các hệ hiện hữu trong nhà máy sản xuất bia có cồn, đồng thời trong bia có đầy đủ các loại hương vị đặc trưng sinh ra do quá trình lên men hoàn toàn.
Loại bỏ cồn bằng phương pháp trích ly đối với sản phẩm bia là không thích hợp, do quá trình trích ly phải sử dụng dung môi, chất hấp phụ làm cho chất lượng sản phẩm bia có thể không đạt yêu cầu về chất lượng thực phẩm, nếu dùng phương pháp trích ly bằng CO2 siêu tới hạn thì chi phí cho đầu tư và sản xuất quá lớn. Đối với các phương pháp loại cồn bằng màng cũng có nhược điểm là chi phí cho đầu tư và sản xuất lớn, thậm chí màng RO không loại được độ cồn trong bia xuống < 0,45% vol.
Phương pháp loại bỏ cồn bằng nhiệt có khả thi nhất, có thể tạo ra sản phẩm bia không cồn với nồng độ 0,05% vol, đặc biệt là phương pháp chưng cất chân không, do chế độ hoạt động ở nhiệt độ và áp suất thấp, do đó bia không bị biến đổi tính chất hóa học trong quá trình khử cồn. Đồng thời, hỗn hợp hơi thoát ra từ đỉnh tháp chưng cất (bao gồm các hợp chất hương và cồn) cũng dễ dàng được phân tách dựa theo nguyên lý nhiệt độ sôi của các hợp chất, mà dung dịch hương được thu hồi triệt để không bị lẫn dung môi khác. Hơn nữa, phương pháp công nghệ đã được ứng dụng thực tiễn có hiệu quả cho sản xuất bia không cồn của một số nhà máy sản xuất bia ở Châu Âu như Đức, Đan Mạch… cũng sử dụng các phương pháp chưng cất chân không. Qua phân tích hai trường phái công nghệ sản xuất bia không cồn ở trên, chúng tôi thấy dây chuyền sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia ở Đức có lợi thế hơn về chi phí đầu tư và chi phí sản xuất (quyết định lớn đến giá thành sản phẩm), tạo ra nồng độ sản phẩm bia không cồn đạt 0,05% vol.
2. Phân tích lựa chọn công suất đầu tư phù hợp sản xuất bia không cồn tại Việt Nam.
Xu hướng các nhà máy bia trên thế giới đầu tư hệ thống sản xuất bia không cồn thường chiếm khoảng 5% tổng công suất sản xuất các loại bia của nhà máy, công suất tương ứng khoảng 3.000 l/h - 10.000 l/h. Công suất sản xuất bia không cồn của một số nhà máy bia trên thế giới như: Nhà máy Bia Bittenfelder, nước Đức, công suất 3.000 l/h; Nhà máy Bia Stassen, Bỉ, 1.500 l/h; Nhà máy Bia Pfungstadter, Đức, 2.000 l/h; Nhà máy Bia Shandong Huazhong, Trung Quốc, 5.000 l/h; Nhà máy Bia Al Ahram, Ai Cập, 5.000 l/h; Nhà máy Bia San Miguel, Tây Ban Nha, 10.000 l/h; Nhà máy Bia Almaza, Cộng hòa Liban, 5.000 l/h; Nhà máy Bia Inbev, Braxin, 5.000 l/h; Nhà máy Bia Bitburger, Đức, 4.000 l/h; Nhà máy Bia Yanjing Beer, Trung Quốc, 5.000 l/h; Nhà máy Bia Guiness, Ireland, 10.000 l/h; Nhà máy Bia Heineken, Tây Ban Nha, 10.000 l/h; Nhà máy Bia Eichhof Luzem, Thụy Sỹ, 1.000 l/h; Nhà máy Bia Tsingtao, Trung Quốc, 3.000 l/h…
Trong khi đó, theo báo cáo điều tra của Bộ Công Thương năm 2012, công suất sản xuất bia của Việt Nam tại thời điểm này khoảng 60-85%. Do đó việc đầu tư sản xuất bia không cồn nên tận dụng tối đa % công suất chưa sử dụng của các nhà máy sản xuất bia có cồn. Một số nhà máy hiện đại tại Việt Nam có công suất từ 50 – 200 triệu lít/năm, tương ứng % công suất chưa tận dụng khoảng 2,5 – 10 triệu lít/năm. Phân tích đưa ra của chúng tôi cho thấy, mức đầu tư hệ thống sản xuất bia không cồn an toàn cho các nhà máy bia Việt Nam tại thời điểm này một mặt nên bắt kịp xu hướng sản xuất bia không cồn của các nhà máy bia trên thế giới, mặt khác nên nhìn nhận vào công suất sản xuất bia có cồn chưa được tận dụng hết để lựa chọn công suất đầu tư hệ thống sản xuất bia không cồn hợp lý nhất.
Kết luận
Kết quả phân tích của chúng tôi trong bài báo này sẽ góp phần định hướng rõ ràng cho ngành bia của Việt Nam về lựa chọn công nghệ sản xuất, lựa chọn công suất đầu tư cho một sản phẩm đồ uống mới của Việt Nam – sản phẩm bia không cồn. Công suất sản xuất bia ở mức an toàn khoảng 5 – 10 triệu lít/năm, tương ứng khoảng 1.000 – 2.000 l/h. Phương pháp loại cồn bằng nhiệt, sử dụng hệ thống chưng cất chân không, kết hợp hệ thống thu hồi hương, phối trộn hương, phối trộn bia chưa khử cồn để hoàn thiện sản phẩm bia không cồn. Mục tiêu chính đạt được, đó là chi phí đầu tư hệ thống sản xuất bia không cồn thấp, chi phí sản xuất bia không cồn là tối thiểu, giá thành sản phẩm bia không cồn là hợp lý với người tiêu dùng và đặc biệt sản phẩm bia không cồn phải giữ được hương vị đặc trưng, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu quen thuộc của người Việt.
Tài liệu tham khảo
[1]. W.Kunze, 1999. Technology Brewing and Malting, VBL, Berlin.
[2]. H.M. Esslinger, L. Narziss, Beer, 2009.Ullmann’s Encyclopedia of Industrial Chemistry. Wiley – VCH Verlag, Weinheim.
[3]. M.J. Lewis, T.W. Young, 1995. Brewing.Chapman & Hall, London.
[4]. A. Debourg, M. Laurent, E. Goossens, E. Borremans, L. Van De winkel, C.A. Masschelein, 1994. Wort aldehuytde reduction potential in free and immobilized yeast system.Journal of the american Society of Brewing Chemitss 52.
[5]. F. Schur, 1988. Processs for the preparation of alcohol-free drinks with a yeast aroma. US patent US.
[6]. S.Collin, 1999. Fate of the worty flavours in cold contact fermentation.Food Chemistry 66.
[7]. S.Colin, 2000.Evidence of Stecker aldehyde excretion by yeast in cold contact fermentations.Journal of Agricultural and Food Chemistry 48.
[8]. A.A. Vicente, J.A. Teixeira, 2005. Countinuous primary fermentation of beer yeast imobilization kinetics and product quality, Brazilian journal of Food Technology.
[9]. M.F.M.van Iersel, E. Brouwer-Post, F.M. Rombouts, T. Abee, 2000. Influence of yeast immobilization on fermentation and aldehyde reduction during the production of alcohol-free beer. Enzyme and Microbial Technology 26.
[10]. A.J. Craig, 1991. Counter-current gas-liquid contacting device. US patent US 4995945.
[11]. G.J. Pickering, 2000. Low and reduced-alcohol wine: a review.Journal of Wine Research 11.
[12]. I. Medina, J.L.Matinez, 1997. Dealcoholisation of cider by supercritical extraction with carbon dioxide.Journal of chemical Technology and Biotechnology, 68.
[13]. H.O.E. Karlsson, 1997. Aroma recovery during beverage processing.Journal of Food Enginneering 34.
[14]. A. Didier, 2002. Process of making alcohol-free beer and beer aroma concentrates. US Patent US 5308631.
[15]. J. Labanda, S. Vichi, 2009. Membrane separation technology for the reduction of alcoholic degree of a white model wine, LWT – Food Science and Technology 42.
[16]. S. Alvarez, F.A. Riera, 2002. Production of low alcohol content apple cider by reverse osmosis.Industrial and Engineering Chemistry Research 41.
[17]. M.V. Pilipovik, C. Riverol, 2005.Assessing dealcoholization systems based on reverse osmosis.Journal of Food Engineering 69.
[18]. A.S. Michaels, R.P. Canning, 1998.Methods for dealcoholization employing perstration. US Patent US 5817359.
[19]. N.Diban, V.Athes, 2008.Ethanol and aroma compounds transfer study for partial dealcoholization of wine using membrane contactor. Journal of Membrane Science 311.
[20]. S. Varavuth and et..., 2009.Experimental study on dealcoholization of wine by osmotic distillation process.Separation and Purification Technology 66.
[21]. M. Mulder, 2000. Basic Principles of Membrane Technology.Kluwer Academic Publishers, Dordrecht.
[22]. Daniel P. Silva and et…, 2012. A review of methods of low alcohol and alcohol – free beer production.Journal of Food Engineering 108.
[23]. Aivasidis and et…, 1991. Continuous fermentation of alcohol-free beer with immobilized yeast in fluidized bed reactor. In procesdings of the European Brewing convention congress, Lisbon, Portugal.
[24]. Catarino.M, Mendes.A and et…, 2007. Alcohol removal from beer by reserve osmosis.Separation Science and Technology 42.
[25]. Hochberg. U, 1986.Beer dealcoholization by evaporation.Brauindustrie 71.
[26]. Moreina da Silva.P, 2008. Spinning cone column distillation – innovative technology for beer dealcoholisation.Cerevisia 33.
[27]. Sulo.P, 2008. Beer with reduced ethanol content produced using Sacchromyces cerevisiae yeasts deficient in various tricacboxylic acid cycles enzymes. Journal of the Institute of Brewing 114.
 
Tập đoàn Polyco chung sức vì chủ quyền biển đảo
Với tinh thần chung sức, chung lòng giữ gìn biển đảo quê hương và kịp thời động viên các lực lượng đang thực thi nhiệm vụ nơi đầu sóng, ngọn gió của Tổ quốc. Ngày 23/5/2014, GS. TS. Đinh Văn Thuận – Chủ tịch Tập đoàn Polyco và TS. Đinh Văn Thành – Tổng giám đốc Tập đoàn Polyco đã đến Cảnh Sát biển Việt Nam và Kiểm ngư Việt Nam để trao 200 triệu đồng, số tiền tuy nhỏ nhưng đó là hành động thể hiện tinh thần, trách nhiệm trước tình hình biển đảo hiện nay của đất nước. Qua hoạt động này, Tập đoàn muốn chung tay, góp sức ủng hộ các cán bộ, chiến sỹ thuộc hai lực lượng trên đang ngày đêm thi hành nhiệm vụ trên thực địa, không quản ngại gian khó, hiểm nguy để giữ gìn an ninh, an toàn lãnh hải và bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Ghi nhận trước sự quan tâm kịp thời của Polyco, Thiếu tướng Hoàng Văn Đồng – Phó chính ủy Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam đánh giá cao tinh thần yêu nước của Polyco nói riêng và của nhân dân nói chung, đó là niềm tin về một hậu phương vững chắc... và rất mong nhận được sự quan tâm của đồng bào cả nước về vấn đề biển đảo của Tổ quốc hiện nay. Về phía Kiểm ngư Việt Nam, đồng chí Nguyễn Văn Trung – Phó Cục trưởng cho hay: “Trong suốt những ngày qua, từ 1/5 đến nay, các lực lượng chấp pháp của chúng ta kiên cường bám trụ trên biển, thực sự anh dũng đấu tranh ngăn cản hoạt động phi pháp của phía Trung Quốc, tìm cách tiếp cận giàn khoan để yêu cầu họ dừng các hoạt động thăm dò dầu khí và rút ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. Các chiến sỹ Kiểm ngư, Cảnh sát biển và các lực lượng có liên quan đã hết sức kiên cường bám biển, ngày đêm chịu rủi ro nhưng cương quyết giữ vững quan điểm và chủ quyền của chúng ta trên biển”.
Đồng cảm với những khó khăn, gian khổ mà các lực lượng và ngư dân đang phải đối mặt trên biển, TS. Đinh Văn Thành chia sẽ: “Tập đoàn Polyco sẽ luôn quan tâm, theo dõi sát sao và sẵn sàng chung sức, chung lòng cùng các chiến sỹ đang làm nhiệm vụ cao cả nơi hải đảo xa xôi để bảo vệ Tổ quốc”
Polyco hướng về biển Đông lúc này, thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp, của công dân với quốc gia, dân tộc. Thể hiện tấm lòng yêu nước sâu sắc từ hậu phương gửi về các chiến sỹ Cảnh sát biển, kiểm ngư và ngư dân vùng Biển Đảo.
alt
alt
alt
alt
alt
 
Nữ tướng “ẩn danh” của POLYCO
Trong khi các DN khác đầu tư vào nhiều lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản theo xu hướng vận động “thời thượng” của thị trường, thì POLYCO - Cty TNHH Cơ điện lạnh Bách khoa chỉ hướng tới một lĩnh vực duy nhất là thiết kế, chế tạo cơ khí tự động hóa. Người “kiên quyết” với chiến lược này là chị Phạm Thị Cẩn - Chủ tịch HĐTV, Giám đốc Tài chính Cty.
 
 alt
POLYCO chỉ tập trung đầu tư hệ thống nhà xưởng và cầu trục tiêu chuẩn quốc tế, các thiết bị máy móc hiện đại như: máy công cụ cắt gọt, máy thủy lực, máy miết chỏm cầu, máy hàn đường sinh plasma – Tig, máy phun polyurethane, được nhập khẩu đồng bộ từ Châu Âu. Nhờ đó mà hiện nay POLYCO không chỉ luôn chủ động nguồn vốn cho các dự án của mình, mà còn vững vàng trước những khó khăn, thách thức của khủng hoảng kinh tế.
Bí quyết thành công
Năm 2007, Cty đứng trên bờ phá sản khi xây dựng nhà máy bia Sài Gòn – Hà Nội. Trong những lúc khó khăn về tài chính nhất, chị vẫn kiên quyết không nợ lương công nhân với quan điểm nếu nợ lương, giảm lương thì năng suất lao động cũng sẽ bị giảm, công nhân sẽ không dốc lòng, dốc sức vào công việc thì tiến độ bàn giao nhà máy cho chủ đầu tư sẽ bị chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả và vòng quay vốn. Bên cạnh đó, Cty luôn khuyến khích cán bộ nhân viên học và nghiên cứu khoa học, áp dụng cơ chế tăng lương (tăng 5% lương cho cán bộ có bằng ngoại ngữ, 10% lương nếu có bằng thạc sĩ và 15% lương nếu có bằng Tiến sĩ). Trong thời gian đó, Cty thành lập viện nghiên cứu nhằm khuyến khích cán bộ nhân viên nghiên cứu khoa học, đưa ra các phát minh, sáng chế nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất lao động. Nhớ lại quãng thời gian khó khăn đó, chị chia sẻ: “Tôi đã gỡ nút thắt khó khăn trong giai đoạn đó bằng giải pháp nâng cao và chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo đời sống cho các CBCNV. Giải pháp đó có thể nhiều người cho rằng thật mạo hiểm khi đầu tư vào nguồn nhân lực trong lúc tài chính khó khăn, nhưng thực tế đã chứng minh tôi đúng và thành công”.
Định vị trên thị trường
Trong quá trình hoạt động, POLYCO đã phát triển được 11 Cty con, 4 viện nghiên cứu và trường đại học, 20 Cty liên kết, lắp đặt gần 1.000 công trình với thiết bị công nghệ đạt chuẩn quốc tế. Với những tiêu chí thiết thực như: tìm tòi sáng tạo, phát huy nội lực, đổi mới trang thiết bị, cải thiện đời sống công nhân viên... Cty phấn đấu hàng năm doanh số tăng từ 20- 25%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 15 đến 20%.
Với bề dày kinh nghiệm 19 năm xây dựng và phát triển, bằng những công trình mang tầm quốc tế, POLYCO đã khẳng định vị trí đứng đầu trong ngành, nhận được sự tin tưởng và tín nhiệm đặc biệt, trở thành đối tác chiến lược tin cậy của các tập đoàn, TCty lớn trong và ngoài nước như: Tập đoàn Krones, KHS, Siemens, kieselman, TCty CP Bia – Rượu – NGK Hà Nội, TCty CP Bia – Rượu – NGK Sài Gòn, CARLBERG, HALIDA, HUDA, VINAMILK và các Cty bia, rượu, cồn, nước giải khát, sữa và chế biến nông sản thực phẩm trong cả nước.
Bằng những công trình mang tầm quốc tế, POLYCO đã khẳng định vị trí đứng đầu trong ngành chế tạo cơ khí tự động hóa
Những thành tựu khoa học của POLYCO đã được nhiều tổ chức trong nước và quốc tế ghi nhận như Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ (2005), Huân chương lao động Hạng Ba, Huy chương Vàng của tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) dành cho công trình khoa học công nghệ xuất sắc nhất năm (2004), Hai giải nhất giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ VN VIFOTEC (2000, 2004), Cúp vàng sản phẩm chất lượng xuất sắc toàn quốc năm 2008…
Còn đối với chị Phạm Thị Cẩn đã vinh dự được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý của Nhà nước như: Huân chương lao động Hạng Nhì, Huân chương Lao động Hạng Ba, Bằng khen Chính Phủ, Cúp bông hồng Vàng 2008,...
Hạnh phúc trọn vẹn
Với những công việc mà tưởng chừng như chỉ có phái mạnh mới có năng lực và bản lĩnh thực hiện thì chị lại là người hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu và mục tiêu đề ra. 
Chị chia sẻ: “Điều mà tôi luôn tâm đắc và tự hào là POLYCO đã tạo được môi trường làm việc, mà ở đó tất cả cán bộ, công nhân viên Cty luôn có cảm giác như đang ở trong một đại gia đình đoàn kết, hết lòng vì công việc. Tại POLYCO, người lao động đều được quan tâm, đối xử như những người trong một gia đình và được tạo điều kiện để phát huy khả năng sáng tạo của mình.
Không chỉ là nhà quản lý xuất sắc, nhạy bén, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm mà chị Phạm Thị Cẩn còn là hậu phương vững chắc cho chồng - một nhà khoa học. “Đối với gia đình, tôi thấy mình là người phụ nữ hạnh phúc khi luôn được đồng hành cùng chồng là Chủ tịch HĐQT Công ty trong công việc cũng như cuộc sống; Cô con gái hiện đang là Phó tổng giám đốc Công ty, chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sỹ kinh tế, còn cậu con trai đã đạt học vị tiến sỹ tại Anh khi mới 27 tuổi và hiện đang giữ chức Tổng Giám đốc Công ty”, chị Phạm Thị Cẩn tự hào chia sẻ...   
 
(Theo Diễn đàn Doanh nghiệp)
 
 
Giám đốc tài chính Phạm Thị Cẩn nhận Cúp Bông Hồng Vàng

Vừa qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam VCCI đã phối hợp tổ chức Lễ tôn vinh “Nữ doanh nhân Việt Nam tiêu biểu 2013 - Cúp Bông Hồng Vàng” tại Hà Nội. Đến dự và trao giải có đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Quốc hội, đại diện các cơ quan Chính phủ, Nhà nước và các cơ quan ban ngành liên quan, 100 nữ doanh nhân Việt Nam tiêu biểu trên toàn quốc cùng đông đảo cơ quan thông tấn bào chí Trung ương và Hà Nội.

Giám đốc tài chính Phạm Thị Cẩn vinh dự được nhận Cúp “Bông Hồng Vàng” năm 2013 vì những đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua. Đây là nữ giám đốc của Công ty Cơ điện nhiệt lạnh Bách khoa (Polyco) đã lãnh đạo doanh nghiệp tăng trưởng trong ba năm liên tiếp, có đầu tư hoạt động đổi mới công nghệ, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, đóng góp cho cộng đồng, quan hệ lao động hài hòa...

Giải thưởng "Bông hồng vàng" tôn vinh những nữ doanh nhân tiêu biểu "giỏi việc nước, đảm việc nhà", đại diện cho hàng ngàn phụ nữ tài năng trên khắp Việt Nam, không chỉ là những người xuất sắc trong kinh doanh mà còn đóng vai trò “giữ lửa” trong mỗi gia đình. Với ý nghĩa đó, "Bông hồng vàng" không chỉ ghi nhận những thành tựu mà còn có ý nghĩa động viên, khích lệ, cố súy tinh thần kinh doanh của nữ giới nói riêng cũng như doanh nhân Việt Nam nói chung.

Đây không chỉ là vinh dự của những nữ doanh nhân tiêu biểu, mà còn là vinh dự của tất cả các nữ doanh nhân trong cả nước bởi chính họ đã vượt qua rất nhiều khó khăn, định kiến của xã hội để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh, làm giàu cho bản thân, cho gia đình và xã hội.
  
alt

           

  alt 









alt

 
GS.TS. Đinh Văn Thuận nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

           Ngày 17/1/2014, UBND TP Hà Nội, Ban Thi đua khen thưởng Trung ương, Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ Hà Nội đã phối hợp cùng Đài Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức “Đêm doanh nghiệp 2013” tại Hà Nội. Tới dự, có ông Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính Trị, Chủ Tịch Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, lãnh đạo UBND TP Hà Nội, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Ban thi đua khen thưởng Trung ương, Sở Công Thương Hà Nội…

alt 

        Năm 2013 đi qua, Nhà nước, Chính phủ và UBND TP Hà Nội đã lựa chọn các doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu và tặng các danh hiệu cao quý như Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động, Bằng khen Chính phủ, Bằng khen UBND TP Hà Nội cho các tập thể và cá nhân ưu tú. Tại “Đêm doanh nghiệp 2013” có 200 doanh nghiệp, cá nhân có thành tích xuất sắc trong kinh doanh đã được khen thưởng. Về Huân Chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba có 17 cá nhân và doanh nghiệp được Nhà Nước trao tặng. 40 tập thể, cá nhân cũng nhận được bằng khen của Chính phủ. 108 doanh nghiệp được UBND Thành phố khen thưởng. Ngoài ra 40 doanh nghiệp, cá nhân cũng được Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ trao kỷ niệm chương và giấy khen. Trong đó, GS. TS. Đinh Văn Thuận – CTHĐTV Tập đoàn  POLYCO vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng Nhì.
alt

Sự ghi nhận và tôn vinh của Đảng, Nhà nước, Thành phố Hà Nội là phần thưởng xứng đáng cho những đóng góp về kinh tế, xã hội và cộng đồng của các doanh nhân, doanh nghiệp tiêu biểu. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp, doanh nhân thành đạt gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm và cùng nhau tìm kiếm thị trường trong những năm tiếp theo.
 
Khánh thành giai đoạn II Nhà máy Bia Sài Gòn - Quảng Ngãi
Vừa qua, tại Khu công nghiệp Quảng Phú (Quảng Ngãi), Công ty CP Bia Sài Gòn - Quảng Ngãi (thuộc Tổng Công ty CP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn - SABECO) đã tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Bia Sài Gòn - Quảng Ngãi.
alt
GS. TS. Đinh Văn Thuận - CTHĐTV Tập đoàn POLYCO dự Lễ cắt băng khánh thành
Nhà máy Bia Sài Gòn – Quảng Ngãi được lắp đặt đồng bộ hệ thống dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Trong đó, Tập đoàn POLYCO đã thiết kế, chế tạo, lắp đặt Tank lên men 512m3, Tank thành phẩm và lắp đặt toàn bộ hệ thống đường ống ngoại tuyến, dây chuyền chiết lon giai đoạn II có công suất 36.000 lon/giờ. Với Hệ thống thiết bị hiện đại này, Nhà máy Bia Sài Gòn – Quảng Ngãi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đầu tư ban đầu đề ra: đồng bộ; tự động hóa cao, đảm bảo sản xuất Bia Sài Gòn dài ngày với chất lượng cao; Kiểm soát chất lượng liên tục, đảm bảo chất lượng bia ổn định; Tiết kiệm năng lượng, chi phí và nhân công nhờ tự động hóa các khâu bốc xếp và kiểm soát chất lượng; Thân thiện với môi trường nhờ Hệ thống xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến.
alt
           Dây chuyền chiết Lon do Tập đoàn POLYCO lắp đặt có công suất 36.000 Lon/giờ
           alt
   Tank lên men 512m3 do Tập đoàn POLYCO thiết kế, chế tạo và lắp đặt
Dự án Nhà máy Bia Sài Gòn - Quảng Ngãi được khởi công xây dựng trên diện tích 15,4 ha, có tổng mức đầu tư giai đoạn I hơn 1.085 tỷ đồng với công suất thiết kế 100 triệu lít bia/năm. Hiện nay, Nhà máy đã hoàn thành giai đoạn II và đi vào hoạt động ổn định. 
Đây là dự án nằm trong chiến lược phát triển Ngành bia của Tổng Công ty CP Bia - Rượu - NGK Sài Gòn, phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển năng lực sản xuất và hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2015 sản lượng tiêu thụ đạt 2 tỷ lít bia. Công ty nằm ở một trong năm vùng trọng điểm sản xuất và tiêu thụ Bia Sài Gòn, có vị trí chiến lược ở trung tâm Miền trung với khu kinh tế trọng điểm Dung Quất, thành phố Vạn Tường đang được hình thành với dân cư trẻ, sức tiêu thụ cao nên Nhà máy Bia Sài Gòn – Quảng Ngãi có lợi thế rất lớn về gia tăng sản lượng, mở rộng sản xuất.
 
POLYCO hoàn thành công trình Nhà mày Bia Hà Nội - Thái Bình
Vừa qua, Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (HABECO) đã tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Bia Hà Nội - Thái Bình, tại khu Công nghiệp Sông Trà, thành phố Thái Bình. Đến dự có: Bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Đặng Xuân Thiều, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình; ông Phạm Văn Xuyên, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, GS. TS. Đinh Văn Thuận – Chủ tịch Tập đoàn POLYCO, Đại biểu các cơ quan ban ngành liên quan, cùng đông đảo cơ quan báo chí địa phương và Trung ương về đưa tin.

alt
GS. TS Đinh Văn Thuận đang giới thiệu các thiết bị lắp đặt của POLYCO cho Thứ Trưởng Bộ Công Thương - Hồ Thị Kim Thoa
Nhà máy Bia Hà Nội - Thái Bình được xây dựng trên quy mô diện tích 6,5ha. Được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 1 có công suất 50 triệu lít bia/năm, giai đoạn 2 có thể nâng công suất lên 100 triệu lít bia/năm với tổng vốn đầu tư 490 tỷ đồng. Trong đó Tập đoàn POLYCO đã thiết kế, chế tạo, lắp đặt các thiết bị sản xuất chính và dây chuyền hiện đại, đồng bộ, tiết kiệm năng lượng của nhà máy. Sau 2 năm xây dựng, đến nay nhà xưởng, các công trình phụ trợ đã xây dựng xong, cơ bản đáp ứng việc mở rộng nâng công suất của Nhà máy lên 100 triệu lít bia/năm.

alt
Lễ Cắt băng khánh thành tại Nhà máy
Tháng 7/2013, Nhà máy đã nấu thử mẻ bia đầu tiên và đến nay đã đi vào sản xuất thương mại. Nhà máy Bia Hà Nội - Thái Bình đi vào hoạt động, dự kiến năm 2014, HABECO sẽ đóng góp cho ngân sách của Thái Bình khoảng 200 tỷ đồng và tạo việc làm cho hàng trăm lao động địa phương.
Phát biểu tại lễ khánh thành, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa, đánh giá cao những nỗ lực của HABECO trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn duy trì mở rộng quy mô sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Nhà máy Bia Hà Nội - Thái Bình đi vào hoạt động có ý nghĩa quan trọng, góp phần thúc đẩy lĩnh vực Công nghiệp của Thái Bình phát triển. Thứ trưởng cũng đề nghị, HABECO cần hoàn thiện công trình của mình và làm tốt công tác sản xuất an toàn, bảo đảm chất lượng và vệ sinh môi trường để sớm nâng công suất lên 100 triệu lít bia/năm. Bộ Công Thương sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Nhà máy đi vào hoạt động ổn định, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, cũng như tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh Thái Bình.
alt
            alt
alt
 
alt
            alt
 
 
Diễn văn Lễ công bố thành lập Trường ĐHCN Vinh
 TÂM THỨC VỀ MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỚI TRÊN ĐẤT HỌC NGHỆ AN
(GS. TS Đinh Văn Thuận - Hiệu trưởng Trường ĐHCN Vinh)
Kính thưa GS.TSKH Bùi Văn Ga – Thứ trưởng thường trực Bộ GD và ĐT. Kính thưa TS Nguyễn Xuân Đường – Chủ tịch UBND Tỉnh Nghệ An. Kính thưa Quý vị đại biểu, Quý Thầy Cô cùng các em học sinh thân mến.
Trước hết tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới GS.TSKH Bùi Văn Ga, Thứ trưởng thường trực Bộ GD&ĐT đã thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trao cho chúng tôi Quyết định số 920/QĐ-TTg, một văn bản mang ý nghĩa lịch sử, khai sinh ra Trường ĐHCN Vinh, Trường đại học thứ năm trên quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Qua Thứ trưởng chúng tôi cũng xin được gửi tới Quốc hội, Chính phủ và Bộ GD&ĐT lòng biết ơn chân thành nhất của Hội đồng sáng lập, Hội đồng GS, TS chủ nhiệm ngành, của tập thể giảng viên, nhân viên Trường ĐHCN Vinh.
Trong suốt 5 năm vừa đầu tư xây dựng, vừa làm các thủ tục xin thành lập trường, chúng tôi đã nhận được sự chỉ đạo, sự động viên khích lệ, sự hỗ trợ vô cùng quý báu của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, Mặt trận Tổ quốc và các Sở, Ban, Ngành tỉnh Nghệ An. Chúng tôi xin chân thànhcảm ơn những sư giúp đỡ vô cùng quý báu đó.
alt
GS. TSKH Bùi Văn Ga - Thứ trưởng Bộ GD&ĐT trao quyết định thành lập trường cho GS. TS Đinh Văn Thuận - Hiệu trưởng
Kính thưa Quý vị Đại biểu
Lễ công bố thành lập Trường ĐHCN Vinh được tổ chức tại thời điểm chúng ta đón nhận Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” như một văn kiện lịch sử đối với toàn ngành giáo dục và đào tạo. Riêng với Trường ĐHCN Vinh, NQ TƯ 8 thực sự trở thành định hướng sự nghiệp đào tạo của nhà trường, nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của đất nước ta trong quá trình phát triển và hội nhập.
Với tinh thần đó tôi xin được tập trung nhấn mạnh những nhận thức về chiến lược, những giải pháp cốt lõi cho sự phát triển của Trường ĐHCN Vinh dưới tựa đề: “TÂM THỨC VỀ MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỚI TRÊN ĐẤT HỌC NGHỆ AN”.
alt
TS. Nguyễn Xuân Đường – Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An và GS. TS Đinh Văn Thuận, Hiệu trưởng đánh trống khai giảng năm học
Kính thưa Quý vị Đại biểu                                   
Trường ĐHCN Vinh ra đời trong tình hình hệ thống đào tạo đại học của Việt Nam chúng ta đang có những dấu hiệu chưa tốt phản ánh những bất cập, những yếu kém như:  
- Chất lượng, hiệu quả đào tạo còn thấp.
- Đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động.
- Phương  pháp đào tạo, phương thức thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực  chất.
- Chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc.      
- Một bộ phận trong đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển của hệ thống đào tạo.
Ngoài ra, Trường ĐHCN Vinh lại có những rào cản riêng của một trường đại học mới được thành lập. Đó là tuyển sinh sẽ rất khó khăn, không thể có được ngay quy mô cần thiết về số lượng sinh viên; chất lượng sinh viên khi tuyển vào chủ yếu thuộc nhóm điểm tuyển rất thấp; phần lớn giảng viên, nhân viên còn trẻ cần phải được đào tạo bổ sung, đào tạo lại để đáp ứng những cam kết đối với xã hội về chất lượng của sinh viên khi tốt nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn nói trên, chúng tôi cũng nhận thức rất rõ những mặt thuận lợi rất cơ bản có vai trò rất quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển Trường ĐHCN Vinh.
1. Thứ nhất, Việc xây dựng Trường ĐHCN Vinh hoàn toàn phù hợp với quyết sách tập trung đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để đáp ứng những nhu cầu cấp bách trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An. Các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã tạo những cơ hội tốt nhất, những sự hỗ trợ hiệu quả nhất giúp nhà trường vượt qua mọi khó khăn, rào cản để có thể triển khai những nhiệm vụ đã được hoạch định.
2. Thứ hai, Nghệ An là đất học. Biết bao người con ưu tú của quê hương Nghệ An đã nỗ lực học tập để từ những mảnh đất nghèo vươn tới những thành tựu xuất sắc đóng góp cho đất nước, cho dân tộc. Bởi vậy, thế hệ học trò ngày nay của Nghệ An và khu vực Bắc Trung bộ luôn thiết tha mong đợi việc hình thành ngay trên quê hương mình những trường đại học thực sự đẳng cấp để đáp ứng truyền thống hiếu học được kế thừa từ các thế hệ cha anh.
3. Thứ ba, nhiều nhà giáo, nhà khoa học tâm huyết đã tiến cử, đã tập hợp một đội ngũ những người thầy đã nhiều chục năm đứng trên bục giảng của các trường đại học hàng đầu, nay với vị thế là những Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành đem tinh hoa của tài năng và tâm đức cống hiến cho sự nghiệp đào tạo của Trường ĐHCN Vinh, trước hết và chủ yếu là đào tạo bồi dưỡng một thế hệ giảng viên trẻ cho nhà trường.   
4. Thứ tư, Trường ĐHCN Vinh có các thành viên sáng lập, các thành viên thân hữu, các nhà tài trợ, là các doanh nghiệp hàng đầu trong nhiều lĩnh vực, không những có đủ điều kiện tạo ra môi trường học tập lý thuyết gắn liền với thực hành các kỹ năng tác nghiệp cho sinh viên, mà còn đủ điều kiện tạo ra môi trường tuyển dụng, tạo ra nơi làm việc cho các sinh viên sau khi ra trường.
Thuận lợi này được khẳng định bởi kinh nghiệm đào tạo thực tế trong gần 20 năm qua của Tập đoàn POLYCO, nhà đầu tư lớn nhất của Trường ĐHCN Vinh với vị thế là một trong những Tập đoàn hàng đầu của Việt Nam tích hợp thành công các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ đẳng cấp cao, các hoạt động chuyển giao công nghệ hiện đại quy mô lớn với các hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh hiệu quả cao trong cả nước.  
Thuận lợi này là tiềm năng thực sự bởi sự có mặt của các doanh nghiệp lớn như SCIC, IDICO, Tổng Công ty 28 Bộ Quốc phòng, HABECO, SABECO, Các Tổng Công ty rượu bia nước giải khát Sài gòn – Bình Tây, …
5. Thứ năm, nhờ sự đóng góp của các nhà đầu tư, Trường ĐHCN Vinh ngay từ những ngày đầu thành lập đã có được một khu giảng đường khang trang với các trang thiết bị cần thiết để đảm bảo sự học tập một cách nghiêm túc và hiệu quả đối với sinh viên.
6. Thứ sáu, Trường ĐHCN Vinh có điều kiện để học hỏi những kinh nghiệm quý báu của các trường đại học lớn như ĐHBK Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội, ĐH Vinh, ĐH Công nghiệp TPHCM, ĐH Mở Hà Nội, ĐH Dân lập Hải Phòng, ĐH Kinh tế Công nghệ Hà Nội, ĐH Công nghệ TPHCM và các trường đại học, các trường cao đẳng khác trên địa bàn Tỉnh Nghệ An.
Với những thuận lợi, khó khăn hiện hữu, với trách nhiệm của một cơ sở đào tạo đại học mới, Trường ĐHCN Vinh sẽ triển khai hoạt động với ĐỊNH HƯỚNG SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO là một trường đại học:
• Hoạt động theo phương thức đào tạo mới, vừa hiện đại, vừa phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam.
• Đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của đất nước ta nhằm thực hiện hiệu quả nhất Nghị quyết “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đã được Đảng và Nhà nước đề ra.
Trường ĐHCN Vinh sẽ triển khai hoạt động đào tạo với SỨ MỆNH:
Sử dụng tối ưu nguồn lực, tài nguyên đã được đầu tư, Trường ĐHCN Vinh kết hợp hoạt động trí tuệ đẳng cấp cao trong quá trình nhận thức sáng tạo với  kỹ năng tác nghiệp trình độ cao trong quá trình ứng dụng thực tế để thực hiện trách nhiệm đào tạo được nhà nước giao phó. Đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học, trên đại học có nghiệp vụ chuyên môn giỏi, có phẩm chất tốt, có ý tưởng, có hoài bão, có khả năng sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi căn bản của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại Nghệ An và khu vực Bắc Trung bộ.
Chuyển giao các sản phẩm của trí tuệ, của kỹ năng tác nghiệp chuyên môn tạo ra hiệu quả cho xã hội.
Gia tăng không ngừng nguồn lực tài nguyên, nguồn lực tri thức, nguồn lực tài chính, tạo ra vị thế xứng đáng ngày càng cao của Trường ĐHCN Vinh ở Việt Nam và trên trường quốc tế.
alt
Các Đại biểu và Lãnh đạo Trường đang làm Lễ chào cờ
Trường ĐHCN Vinh cùng với sinh viên CAM KẾT:
Với một đội ngũ các Giáo sư, các Tiến sĩ đầu ngành, với một hệ thống phương pháp đào tạo hiện đại hướng tới từng sinh viên, Trường ĐHCN Vinh tạo điều kiện để sinh viên phát huy hết tâm nguyện và khả năng nhằm đạt được cam kết:  
- Khi vào trường là sinh viên giỏi, khi ra trường phải trở thành kỹ sư, cử nhân tài năng;
- Khi vào trường chưa là sinh viên giỏi, khi ra trường cũng phải trở thành kỹ sư, cử nhân giỏi.        
Để thực hiện các định hướng, sứ mệnh, cam kết trên đây Trường ĐHCN Vinh sẽ từng bước triển khai một hệ thống giải pháp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, trong đó có một vài giải pháp sau đây:
1. Sinh viên phải thực hiện tự đào tạo theo phương pháp HỌC TẬP CHỦ ĐỘNG (Active Learning). Giảng viên phải tương tác với sinh viên theo phương pháp GIẢNG DẠY NĂNG ĐỘNG (Dynamic Training) trong vai trò huấn luyện viên.
2. Áp dụng Chương trình đào tạo theo cơ chế huấn luyện ngay từ năm học đầu tiên, đảm bảo sinh viên có kỹ năng thực hành cao trên nền tảng tích lũy tri thức một cách tương thích với yêu cầu của cấp độ đào tạo.
3. Đào tạo đồng thời vừa tại giảng đường vừa tại hiện trường. Ví dụ:
+ Sinh viên ngành Công nghệ kỹ thuật nhiệt, ngành điều khiển tự động hóa vừa được đào tạo tại khu giảng đường của ĐHCN Vinh, vừa được đào tạo tại Tập đoàn POLYCO.
+ Sinh viên ngành Công nghệ Thực phẩm vừa được đào tạo tại khu giảng đường của ĐHCN Vinh, vừa được đào tạo tại các Tập đoàn POLYCO, HABECO, SABECO.
+ Sinh viên ngành Quản lý công nghiệp, ngành Kế toán vừa được đào tạo tại khu giảng đường của ĐHCN Vinh, vừa được đào tạo tại Tổng Công ty SCIC, tại các Tập đoàn POLYCO, HABECO.
+ Sinh viên ngành Quản trị Du lịch – Lữ hành, ngành Quản trị khách sạn vừa được đào tạo tại khu giảng đường của ĐHCN Vinh, vừa được đào tạo tại các công ty du lịch – lữ hành, tại  các khách sạn thực hành trên địa bàn Nghệ An, Hà Nội, …
4. Đào tạo Anh văn thực hành theo chuẩn quốc tế tại Trung tâm AMA-IUV.
5. Đào tạo kỹ năng thực hành công nghệ thông tin theo chương trình APTEC.
6. Đưa các môn học kỹ năng sống vào chương trình tự chọn chính thức kết hợp với chương trình ngoại khóa.
7. Tổ chức thi tuyển, xét tuyển đa tiêu chí.
8. Áp dụng phương thức đánh giá sinh viên theo hệ thống điểm phản ảnh kết quả tích lũy tri thức, kỹ năng tư duy, kỹ năng thực hành, kỹ năng ứng xử đối với mọi hoạt động của sinh viên trong toàn bộ quá trình đào tạo.
9. Tổ chức thực hiện đào tạo kết hợp với tuyển dụng tạo ra nơi làm việc cho các sinh viên sau khi ra trường tại các doanh nghiệp của các thành viên sáng lập, các thành viên thân hữu, các nhà tài trợ, như POLYCO, HABECO, SABECO, SCIC, IDICO, các Công ty Du lịch – Lữ hành, các Khách sạn thực hành của Viện Đào tạo du lịch và dịch vụ, …
10. Xây dựng sự hợp tác chân thành với các trường, các viện đại học trong nước và quốc tế để học tập kinh nghiệm, tạo điều kiện để nhà trường từng bước theo kịp các trường đại học trong nước và quốc tế.
Các giải pháp cụ thể khác sẽ được nghiên cứu, hoàn thiện và từng bước triển khai áp dụng.
Xây dựng, phát triển Trường ĐHCN Vinh theo tinh thần “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” là một sự nghiệp lớn gắn liền với những tâm thế lớn, đòi hỏi ở các chủ thể của nhà trường những sự nỗ lực đặc biệt.
Đối với các GS, các giảng viên bậc cao, Ban Giám hiệu đặt nơi Quý Thầy Cô những kỳ vọng lớn. Kính mong Quý Thầy Cô bằng trí tuệ, bằng kinh nghiệm, bằng tâm huyết chủ động đề xuất hoặc vận dụng những phương thức đào tạo mới để nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường đồng thời tập trung bồi dưỡng nghiệp vụ giảng dạy năng động, trình độ nghiên cứu khoa học, khả năng chuyển giao công nghệ cho đội ngũ giảng viên trẻ để đáp ứng các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường.
Các giảng viên trẻ, các nhân viên trẻ, đội ngũ tương lai của nhà trường, hãy vừa tham gia GIẢNG DẠY NĂNG ĐỘNG, vừa làm việc tích cực lại vừa phải học tập như những sinh viên xuất sắc nhất theo đúng phương thức HỌC TẬP CHỦ ĐỘNG để nâng cấp chính mình và để làm gương cho các học trò của chính mình.
Với các em sinh viên, Thầy Hiệu trưởng khuyến khích các em hãy tiếp nhận phương thức HỌC TẬP CHỦ ĐỘNG, hãy biến quá trình học tập thành quá trình làm việc tích cực nhất cùng với các thầy cô để tự đào tạo chính mình thành những kỹ sư giỏi, những cử nhân giỏi.
Với các nhà đầu tư, các nhà tài trợ, nhà trường kính mời Quý vị tiếp tục đóng góp nhân tài vật lực để cùng xây dựng Trường ĐHCN Vinh thành một trường đại học đẳng cấp tại khu vực Bắc Trung bộ như Quý vị đã hoạch định.
Trường ĐHCN Vinh kính đề nghị Bộ GD và ĐT, kính đề nghị Tỉnh Ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, Mặt trận Tổ quốc Tỉnh Nghệ An tiếp tục dành cho nhà trường sự chỉ đạo sát sao nhất về kinh nghiệm tác nghiệp cùng với những ủng hộ cao nhất về cơ chế, về chính sách ưu đãi để nhà trường phát huy tốt nhất nội lực trong sự nghiệp xây dựng một trường đại học mới trên đất học Nghệ An.
alt
Đông đảo đại biểu tham dự buổi Lễ long trọng này
            Kính thưa Quý vị Đại biểu
Tại giờ phút lịch sử này, trước các đồng chí lãnh đạo Bộ GD&ĐT, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Nghệ An, trước đồng bào Nghệ An và đồng bào cả nước, Trường ĐHCN Vinh xin trân trọng nhận lãnh trách nhiệm của một trường đại học trong hệ thống đào tạo đại học của Việt Nam và xin long trọng tuyên hứa sẽ thực hiện tốt nhất trách nhiệm đào tạo các thí sinh được tuyển vào trường thành những trí thức trẻ đủ tài, đủ đức như kỳ vọng của mỗi gia đình, đồng thời cũng là kỳ vọng của nhà trường và của đất nước.
Xin chân thành cảm ơn Quý đại biểu đã đến dự Lễ công bố thành lập Trường ĐHCN Vinh và dành cho nhà trường chúng tôi những tình cảm thật ấm áp, thật nồng hậu.
Trước thềm năm mới 2014, tôi xin kính chúc Quý đại biểu, Quý thầy cô và các em sinh viên một năm mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Xin chân thành cảm ơn.
alt
Các Sinh viên nhận bằng tốt nghiệp và học bổng tại Lễ thành lập Trường
alt
Chương trình văn nghệ hoành tráng chào mừng Lễ công bố thành lập Trường
 
 
Trường Đại học Công nghiệp Vinh được thành lập tại Nghệ An
Vừa qua, tại nhà Văn hóa Lao động tỉnh Nghệ An, Trường Đại học Công nghiệp Vinh đã long trọng tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập trường theo quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Tới dự Lễ có ông Bùi Văn Ga - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ông Chu Phạm Ngọc Hiển - Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, ông Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, GS. TS Đinh Văn Thuận – Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Vinh, cùng đông đảo các cơ quan ban ngành liên quan.
alt
Đây là Trường đại học thứ 5 trên đất Nghệ An, hoạt động theo phương thức đào tạo mới, vừa hiện đại, vừa phù hợp với truyền thống. Mục tiêu chính của trường là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với thực tiễn sản xuất, tạo đầu ra thiết thực, chất lượng để đáp ứng nhu cầu của đất nước.
Trường Đại học Công nghiệp Vinh ra đời sẽ mở ra cơ hội cho thế hệ trẻ Nghệ An nói riêng và thế hệ trẻ cả nước nói chung có cơ hội được học tập, được đào tạo, tiếp bước cha anh xây dựng cho quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp. Sau gần 5 năm chuẩn bị và đi vào hoạt động, Trường Đại học Công nghiệp Vinh, hiện có hơn 3.000 sinh viên, tổ chức được nhiều ngành học như: Công nghệ kỹ thuật nhiệt, Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử, Công nghệ thông tin, Công nghệ kỹ thuật hóa học, Công nghệ thực phẩm, Kiến trúc, Quản lý Công nghiệp, Kinh tế công nghiệp, Kế toán, Kiểm toán, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị khách sạn...

alt
Cơ sở vật chất kỹ thuật đã được đầu tư khá khang trang, có đội ngũ giảng viên bài bản với gần 200 người. Trong đó có 48 giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ khoa học, 31 tiến sỹ, 62 thạc sỹ, 52 kỹ sư, cử nhân tham gia giảng dạy. Vì vậy, những sinh viên tham gia học tại đây có cơ hội tiếp cận với môi trường làm việc chuyên nghiệp để trở thành những kỹ sư chủ chốt cho ngành Công nghiệp nước nhà.
Trường Đại học Công nghiệp Vinh được thành lập vào thời điểm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa 11 đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Đây là thuận lợi đầu tiên trong sự nghiệp đào tạo của Trường để đáp ứng nhân tài cho quê hương Nghệ An và khu vực Bắc Trung bộ.

alt
Tại buổi Lễ ông Bùi Văn Ga - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định: “Trường Đại học Công nghiệp Vinh được thành lập khá bài bản, Cơ sở vật chất được chú trọng, tập hợp được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà giáo có trình độ chuyên môn cao, tập thể cán bộ nhà trường có những nhà khoa học đầu ngành, có nhiều kinh nghiệm trong đào tạo nghiên cứu khoa học, đặc biệt là vấn đề gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp. Tăng cường đào tạo lý thuyết gắn với kỹ năng thực hành để đảm bảo sinh viên ra trường đủ khả năng làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu khắt khe của các cơ quan, doanh nghiệp. Đây là tiền đề quan trọng cho những bước phát triển tiếp theo”

alt
TS. Nguyễn Xuân Đường - Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An mong muốn, Nhà trường tập trung xây dựng chiến lược phát triển tổng thể giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Trong đó, phải chú trọng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý của nhà trường. Cần phải coi sinh viên là trung tâm của công tác đào tạo, phát huy năng lực bản thân, thực hiện tốt nhất lời dạy của Bác Hồ “Học phải đi đôi với hành”.
Trong thời gian tới, Trường ĐH Công nghiệp Vinh sẽ tiếp tục sử dụng tối ưu nguồn lực, tài nguyên đã được đầu tư, kết hợp hoạt động trí tuệ đẳng cấp cao trong quá trình nhận thức sáng tạo với kỹ năng tác nghiệp trình độ cao trong quá trình ứng dụng thực tế để thực hiện trách nhiệm đào tạo được nhà nước giao phó. Đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học, trên đại học có nghiệp vụ chuyên môn giỏi, có phẩm chất tốt, có ý tưởng, có hoài bão, có khả năng sáng tạo, đáp ứng đòi hỏi căn bản của sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội tại Nghệ An và khu vực Bắc Trung bộ.Chuyển giao các sản phẩm của trí tuệ, của kỹ năng tác nghiệp chuyên môn tạo ra hiệu quả cho xã hội.Gia tăng không ngừng nguồn lực tài nguyên, nguồn lực tri thức, nguồn lực tài chính, tạo ra vị thế xứng đáng của Trường ĐHCN Vinh ở Việt Nam và trên trường quốc tế.
GS. TS Đinh Văn Thuận – Hiệu trưởng Nhà trường cho hay: “Với đội ngũ giáo sư, tiến sỹ khoa học đã từng công tác nhiều nước trên thế giới và đoạt nhiều giải thưởng cao quý làm rạng danh tổ quốc,  Trường ĐH công nghiệp Vinh sẽ đào tạo bài bản cho những sinh viên sau khi tốt nghiệp là những kỹ sư giỏi, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước”.
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 Tiếp theo > Cuối >>